Hôm nay Thứ sáu, ngày 18/01/2019,

Thường thức Y khoa

Ung thư gan

Thứ năm, 21/01/2016, 09:12 GMT+7

A.  Bài viết của GS. TS Nguyễn Bá Đức
 
Theo WHO hàng năm có 2 triệu người mắc ung thư gan và có 1 triệu người chết do căn bệnh này.
 
Ở Việt Nam, ung thư gan đứng hàng thứ 3 sau ung thư phổi, ung thư dạ dày ở nam giới và sau ung thư vú, cổ tử cung ở nữ giới.
 

Ung thư gan có thể là ung thư tế bào gan nguyên phát (chiếm khoảng 92-95%)  hoặc ung thư gan thứ phát (Khối u từ các ung thư khác di chuyển vào gan, gọi là di căn gan hay ung thư gan thứ phát)

 

Ung thư  tế bào gan nguyên phát là gì ?

Ung thư tế bào gan nguyên phát (HCC -Hepato Celluar Carcinoma), thường được gọi tắt là Ung thư gan, là ung thư xuất phát từ tế bào gan.

Ung thư gan thứ phát

Khối u từ các ung thư khác (ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư vú…) di chuyển vào gan, gọi là di căn gan hay ung thư gan thứ phát.

 

Nguyên nhân
Về nguyên nhân ung thư gan, vai trò của Virus viêm gan B, C hầu như đã được khẳng định. Viêm gan Virus B,C dẫn đến xơ gan rồi ung thư gan là một quá trình biến đổi lâu dài.
 
Người bệnh có thể sống suốt đời với viêm gan mạn tính Virus B,C, nhưng viêm gan Virus B,C phối hợp với các yếu tố khác như rượu, thuốc lá, các độc tố Aflatoxin, dioxin... làm cho ung thư gan xuất hiện sớm hơn rất nhiều lần
 
Dấu hiệu chẩn đoán
 
Ở Việt Nam, có tỷ lệ viêm gan B đến 25% dân số. Đa số bệnh nhân ung thư gan có tiền sử viêm gan B, thậm chí viêm gan B mãn và men gan tăng cao nên tất cả những người từ 40 tuổi trở lên có HbsAg+ thường xuyên 3- 6 tháng phải khám định kỳ /lần.
 
Dấu hiệu ban đầu là bệnh nhân có triệu chứng đau tức, nặng hoặc đau âm ỉ hạ sườn phải, chán ăn, gầy sút cân.
 
Thời kỳ muộn có thể tự sờ thấy u ở vùng hạ sườn, cổ chướng, vàng da, tắc mật...
Khi siêu âm thấy khối tăng âm hoặc âm hỗn hợp hoặc giảm âm. Nếu khối u có viền giảm âm thì 80-90% là khối ung thư, tuy nhiên chỉ có 40-60% có hình ảnh này.
 
Chụp cắt lớp vi tính là phương pháp có giá trị cao trong chẩn đoán ung thư gan. Chụp cắt lớp vi tính cho các hình ảnh sau:
+ Hình ảnh khối choán chỗ khối u 1,2 hay nhiều khối, vị  trí gan phải hay gan trái, hay cả hai gan. Phần lớn khối u có tỷ trọng thấp hơn nhu mô gan lành xung quanh 20% có tỷ trọng hỗn hợp (u thường giảm tỷ trọng ở trung tâm).
 
+ Phối hợp với siêu âm và chụp cắt lớp vi tính cho phép nhận định hình ảnh tăng sinh mạch quanh u và ở rìa u (hình ảnh gợi ý của UT gan) đồng thời xác định hình ảnh huyết khối tĩnh mạch cửa và tĩnh mạch chủ.
 
+ Chụp mạch với máy X.Q mạch (chụp thoát mạch) cho ta hình ảnh chèn đẩy các mạch máu trong gan, các thông động mạch gan - tĩnh mạch cửa, động mạch gan - tĩnh mạch gan hoặc hoặc hình ảnh xâm lấn cũng như huyết khối tĩnh mạch cửa trong hoặc ngoài gan. Chụp mạch với máy X.Q mạch máu số hóa xóa nền là xét nghiệm không thể thiếu khi bệnh nhân có chỉ định điều trị bằng TOCE (tắc mạch gan hóa dầu qua ống th«ng).
 
+ Các xét nghiệm sinh hóa và huyết học. Xét nghiệm sinh hóa sử dụng thường quy là ®o nồng độ AFP. Nồng độ dưới 20ng/ml là bình thường, chỉ có 65-70% bệnh nhân ung thư gan có chỉ số cao hơn 20ng/ml. Như vậy, 30% bệnh nhân dù có ung thư gan thậm chí u to > 5cm vẫn có AFP bình thường. Do vậy, nhiều khi bộ ba: - Dịch tễ (viêm gan B hoặc C); - siêu âm, CT.Scanner có u;-AFP cao. Không phải là tiêu chuẩn để chẩn đoán xác định ung thư gan.
 
- Chẩn đoán tế bào và mô bệnh học bằng chọc hút kim nhỏ dưới hướng dẫn của siêu âm: cũng như mọi ung thư khác.
- Ngoài ra để lập kế hoạch điều trị, cần làm các xét nghiệm đánh giá mức độ xơ gan, dựa vào các tiêu chí của Child Pugh
 Chẩn đoán phân biệt: với u lành tính ở gan, áp xe gan, sán lá gan…
 
Điều trị
 
Phẫu thuật triệt căn: Phẫu thuật cắt hạ phân thùy, phân thùy, thùy gan là phương pháp điều trị triệt căn lựa chọn đầu tiên khi khối u đơn độc (dưới 6cm), hoặc 2 u đường kính dưới 4cm cách nhau khoảng 2cm, không huyết khỗi tĩnh mạch cửa hoặc tĩnh mạch chủ, Child pugh A hoặc B.
Chỉ định tương đối:U đơn độc < 9cm, không huyết khối,Child pugh A hoặc B
 
Điều trị nội khoa: Tiêm Ethanol hoặc acid acetic. Chỉ định được thực hiện khi bệnh nhân có chỉ định điều trị phẫu thuật nh­ng không đồng ý mổ hoặc có bệnh mãn tính không cho phép gây mê (OPCD, tim mạch...), hoặc khi u lớn trên 9cm.
 
Điều trị giảm nhẹ, kéo dài thời gian sống thêm:
+ Tắc mạch hóa dầu (TOCE) qua catheter điều trị ung thư gan. Khi có chỉ định phẫu thuật nhưng bệnh nhân từ chối mổ. TOCE chủ yếu chỉ định cho bệnh nhân không có chỉ định điều trị phẫu thuật triệt căn hoặc tiêm Ethanol dưới hướng dẫn của siêu âm (chủ yếu khi khối u > 10cm hoặc >50% thể tích gan. Sau khi luồn catheter từ động mạch đùi vào động mạch gan riêng rồi đến động mạch phân thùy hoặc hạ phân thùy (tùy vào kích thước u) một nhũ dịch gồm hóa chất (thường dùng Doxorubicin 60-100mg dạng dung dịch) và Lipiodol, Telebli x 350 (khối lượng bằng nhau và bằng 1/3 lượng dung dịch Doxorubicin) được bơm vào mạch nuôi khối u và mạch đó được làm tắc bởi Spongel nghiền nhỏ.
+ Hóa chất tại chỗ qua động mạch gan và hóa chất đường toàn thân hiện nay ít dùng. Hóa chất toàn thân qua đường tÜnh mạch chỉ định cho các bệnh nhân ở giai đoạn muộn. Tỷ lệ đáp ứng thấp chỉ khoảng 6-19%, thời gian sống thêm trung bình 3-8 tháng.
+ Ở bệnh nhân nữ có ER(+) và hoặc PR(+) một số tác giả có dùng Tamoxifen. Tác dụng của biện pháp cũng còn rất hạn chế tuy một số tác giả có tác dụng nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
+ Xạ trị liệu ung thư gan nguyên phát: Một số trung tâm đã ứng dụng phương pháp xạ tại chỗ bằng gắn I.131 với Lipiodol vào động mạch nuôi khối u dựa trên nguyên lý tế bào ung thư biểu mô gan có ái lực với Lipiodol. Một số tác giả khác lại dùng Tc 99 gắn với albinmin rồi bơm vào động mạch nuôi u. Tuy nhiên, kết quả chủ yếu là giảm đau và hạn chế sự phát triển của khối u nhưng không làm thay đổi thời gian sống thêm toàn bộ và sống thêm không bệnh.
+ Liệu pháp trúng đích phân tử bằng Sorafenib: ức chế phân tử Tyrosin kinase đang được nghiên cứu và áp dụng ở nhiều nước và ỏ Việt Nam nhằm tăng tỷ lệ lui bệnh, kéo dài thời gian sống thêm.
 
 
Phòng bệnh
Tiêm vắc-xin phòng viêm gan B, hạn chế uống rượu, an toàn vệ sinh thực phẩm…

Nguồng: bacsigiadinh.org
Theo GS.TS Nguyễn Bá Đức
 
 
 

B. Bài viết của BS Nguyễn Đình Song Huy

Những ai có nguy cơ bị ung thư gan?

Ung thư gan có mối liên hệ chặt chẽ với tình trạng nhiễm vi-rút viêm gan siêu vi B (HBV), vi-rút viêm gan siêu vi C (HCV) cũng như với bệnh lý xơ gan do rượu.

Ngoài ra còn có một số yếu tố nguy cơ khác như nhiễm độc tố alfatoxin, dioxin…

Nên tầm soát ung thư gan bằng cách làm siêu âm bụng mỗi 3-6 tháng cho những người có các yếu tố nguy cơ nói trên.

Làm gì khi được phát hiện có khối u ở gan ?

Khi được phát hiện có khối u ở gan, chúng ta nên đến các cơ sở y tế chuyên khoa (thường là các bệnh viện lớn) để được chẩn đoán chính xác vì khi một khối u xuất hiện ở gan thì chưa chắc nó là ung thư gan.

Những loại u nào khác có thể xuất hiện ở gan ?

Khi phát hiện gan có khối u thì ngoài ung thư thì gan còn có thể có các khối u khác nữa như:

-         Các u lành ở gan: u máu trong gan (Hemangioma), u tuyến (adenoma), tăng sinh dạng nốt, áp-xe gan, nốt vôi hóa ở gan…

-         Ung thư đường mật trong gan ( CCA:Cholangiocarcinoma)

-         Khối u từ các ung thư khác (ung thư dạ dày, ung thư đại trực tràng, ung thư phổi, ung thư vú…) di chuyển vào gan, gọi là di căn gan hay ung thư gan thứ phát.

DẤU HIỆU VÀ TRIỆU CHỨNG


Hầu hết nhiều người không có dấu hiệu và triệu chứng ở giai đoạn ung thư gan sớm, có nghĩa là bệnh này không được phát hiện cho đến khi nó đã khá muộn. Khi các triệu chứng xuất hiện, các triệu chứng có thể gồm một số hoặc tất cả các triệu chứng sau:
- Chán ăn và sụt cân
- Đau bụng, đặc biệt ở hạ sườn phải và có thể đau xiên đến lưng và vai.
- Buồn nôn và nôn.
- Thường xuyên thấy yếu và mệt mỏi.
- Gan to.
- Cổ chướng.
- Vàng da vàng mắt do tích bilirubin - phần còn lại của tế bào hồng cầu giáng hóa.
Bình thường, gan xử lý bilirubin và vì vậy có thể loại trừ bilirubin ra khỏi cơ thể. Nhưng bệnh gan có thể gây tích luỹ chất này trong máu, biểu hiện trên da và củng mạc mắt và làm nước tiểu có màu vàng xậm.

Xác định ung thư gan bằng cách nào?

Khi phát hiện gan có khối u, bệnh nhân sẽ được hỏi để tìm hiểu các yếu tố nguy cơ như: tình trạnh nhiễm HBV hoặc HCV, sử dụng rượu, bia, từng được truyền máu hay từng sử dụng kim tiêm chung với người khác, từng tiếp xúc với các loại độc tố hay hóa chất (loại, thời gian tiếp xúc…), lý do đến khám (đau bụng, vàng da, bụng to, hay chỉ là kiểm tra sức khỏe) và các bệnh lý khác đi kèm. Tìm hiểu những yếu tố nguy cơ này sẽ góp phần giúp bác sĩ tìm nguyên nhân cũng như cách điều trị thích hợp.

Sau khi tìm các yếu tố nguy cơ, bác sĩ sẽ khám bệnh nhân, đánh giá tổng trạng, mạch, huyết áp, tình trạng vàng da vàng mắt, khám tổng quát, khám bụng xem có sờ thấy gan to hay không. Để xác định chính xác có phải ung thư gan hay không bệnh nhân cần được làm một số xét nghiệm cần thiết như: công thức máu, chức năng đông máu, chức năng gan thận, dấu chứng của nhiễm HBV hoặc HCV, dấu chứng ung thư gan (AFP), Chụp X-quang phổi thẳng và siêu âm Doppler mạch máu gan, CT scan bụng có cản quang hay cộng hưởng từ (MRI) bụng có cản từ.

Khi nào thì khối u gan được xác định là ung thư gan?

Khi có một trong ba tiêu chuẩn sau thì khối u gan được xác định là ung thư gan:

-         Có bằng chứng giải phẫu bệnh lý là ung thư tế bào gan nguyên phát

-         Hình ảnh điển hình trên CT scan bụng có cản quang hoặc MRI bụng có cản từ cùng với lượng AFP lớn hơn 400 ng/ml

-         Hình ảnh điển hình trên CT scan bụng có cản quang hoặc MRI bụng có cản từ cùng với lượng AFP tăng cao hơn bình thường (nhưng chưa đến 400 ng/ml) và có nhiễm HBV hoặc HCV.

Những trường hợp không đủ các tiêu chuẩn nói trên đều phải làm sinh thiết gan để chẩn đoán xác định.

Sinh thiết gan là gì?

Đó là một thủ thuật mà bác sĩ sẽ dùng siêu âm xác định vị trí khối u, tiêm thuốc tê dưới da vị trí sẽ chọc kim, sau đó dùng một cây kim đặc biệt xuyên vào để lấy ra một phần của khối u. Phần của khối u này sẽ được xem dưới kính hiển vi để xác định có phải là mô ung thư hay không. Kết quả đó gọi là kết quả giải phẫu bệnh lý.

Ung thư gan có điều trị được không?

Ung thư gan có thể điều trị được. Việc điều trị nhằm hai mục tiêu:

-         Điều trị (các) khối ung thư gan đã phát hiện

-         Điều trị bệnh lý nền tảng như: viêm gan siêu vi B hoặc C, xơ gan…

Ung thư gan có thể xếp thành các giai đoạn.

Tuy nhiên trên thực tế, các bác sĩ lại ít quan tâm đến giai đoạn mà thường xem xét dưới khía cạnh khác: khối u còn điều trị được không và điều trị bằng phương pháp nào.

Những phương pháp nào hiện nay điều trị ung thư gan?

Có ba phương pháp chính để điều trị ung thư gan:

-         Phẫu thuật cắt bỏ phần gan có mang khối u hoặc phẫu thuật ghép gan

-         Phá hủy khối u tại chỗ bằng cách truyền sóng cao tần (RFA) hay vi sóng (microwave) hoặc tiêm chất đông lạnh (cryotherapy), tiêm cồn (PEI) hay chất phóng xạ vào khối u

-         Cắt nguồn máu nuôi khối u phối hợp với diệt tế bào ung thư bằng hóa chất hay chất phóng xạ (TACE hay TOCE).

Tùy từng trường hợp cụ thể mà bác sĩ sẽ đề nghị phương pháp điều trị triệt để nhất và phù hợp nhất với từng bệnh nhân. Trong một số trường hợp cụ thể, bác sĩ có thể phối hợp các phương pháp trên với nhau.

Khi nào bác sĩ đề nghị phẫu thuật cắt gan hay ghép gan?

Bác sĩ sẽ đề nghị bệnh nhân tiến hành phẫu thuật cắt bỏ phần gan có mang khối u khi:

-         Khối u dự kiến cắt bỏ được, thể tích gan còn lại lớn hơn hay bằng  50% thể tích ban đầu

-         Tình trạng toàn thân cho phép chịu đựng cuộc mổ, không có di căn xa.

Bệnh nhân sẽ được chỉ định phẫu thuật ghép gan khi :

-         Gan chỉ có 1 khối u, kích thước khối u không quá 5cm

-         Gan có không quá 3 khối u, kích thước mỗi u không quá 3cm.

Phẫu thuật cắt gan hay ghép gan là cách điều trị triệt để nhất hiện nay. Sau phẫu thuật cắt gan, bệnh nhân có thể hồi phục và xuất viện sau khoảng 01 tuần. Còn sau ghép gan thì bệnh nhân phải chờ đến khi hoàn toàn ổn định mới được xuất viện.

Bác sĩ chọn biện pháp phá hủy khối u tại chỗ khi nào?

Bác sĩ có thể chọn biện pháp phá hủy khối u tại chỗ khi:

-         Số lượng khối u không quá 3, kích thước u không quá 4cm và khối u dễ tiếp cận bằng siêu âm

-         Tình trạng toàn thân cho phép, không có di căn xa hoặc bệnh lý đi kèm.

Với phương pháp này, bác sĩ sẽ xác định vị trí các khối u bằng siêu âm, tiêm thuốc tê vào dưới da vị trí chọc kim, sau đó xuyên một cây kim đặc biệt vào khối u rồi truyền sóng cao tần hay vi sóng, hoặc tiêm chất đông lạnh, tiêm cồn hay chất phóng xạ qua kim vào khối u để phá hủy khối u. Sau thủ thuật, bác sĩ có thể yêu cầu bệnh nhân chụp lại CT scan để xác định đã phá hủy hoàn toàn các khối u trong gan hay chưa, nếu cần thì có thể làm thủ thuật bổ sung. Với phương pháp này, bệnh nhân có thể chỉ thấy đau ít, hồi phục trong ngày và xuất viện sau 1-2 ngày

Trường hợp nào bác sĩ đề nghị phương pháp TACE (hay TOCE) để điều trị ung thư gan?

TACE (Trans-Arterial Chemo-Embolization) hay TOCE (Transarterial Oily Chemo-Embolization)là một kỹ thuật làm tắc các nhánh mạch máu nuôi khối u kết hợp với bơm hóa chất hoặc chất phóng xạ tiêu diệt tế bào ung thư vào khối u để hủy diệt khối u. Phương pháp này được áp dụng khi:

-         Khối u không cắt được, hoặc có nhiều u ở cả hai thùy

-         Tình trạng toàn thân của bệnh nhân không cho phép và không có di căn xa.

Phương pháp này được tiến hành như sau: bác sĩ tiêm thuốc tê vào dưới da vùng bẹn (háng), dùng một kim đặc biệt chọc vào động mạch đùi, qua kim này bác sĩ sẽ luồn một ống thông nhỏ và dài qua động mạch đùi vào động mạch chủ bụng rồi vào động mạch gan, sau đó luồn ống này vào các nhánh động mạch nuôi khối u, bơm hóa chất chống ung thư hay chất phóng xạ vào khối u rồi bơm thuốc làm tắc các nhánh động mạch nuôi khối u. Hóa chất hay chất phóng xạ sẽ diệt một phần khối u, đồng thời khối bị thiếu máu nuôi sẽ chết đi (gọi là hoại tử đông).

Sau thủ thuật, bệnh nhân có thể bị ói, mệt mỏi, sốt, đau, rụng tóc. Mức độ và thời gian của các tác dụng phụ này tùy thuộc vào từng người. Kết quả của TACE (hay TOCE) chỉ có thể đánh giá sau 4-6 tuần và tùy kết quả đó mà bác sĩ sẽ quyết định bệnh nhân có nên làm một lần nữa hay không.

Xạ trị, hóa trị có điều trị được ung thư gan hay không?

Xạ trị ít có hiệu quả trong điều trị ung thư gan và dễ gây tổn thương mô gan lành xung quanh khối u. Một số phương pháp xạ mới có thể có hiệu quả phần nào nhưng vẫn còn đang được nghiên cứu.

Hóa trị toàn thân (truyền hóa chất qua đường tĩnh mạch) ít có giá trị, và chỉ áp dụng cho các trường hợp ung thư gan đã quá chỉ định điều trị (với điều kiện chức năng gan còn khá). Các phác đồ hóa trị hiện nay có thuốc chủ yếu là Doxorubicin. Hóa chất được xem là có hiệu quả làm chậm phần nào sự phát triển của khối u là Sorafenib, một loại thuốc viên uống liên tục hàng ngày, hiện được chỉ định dùng cho các trường hợp đã quá chỉ định điều trị.

Thế nào là ung thư gan quá chỉ định điều trị?

Ung thư gan quá chỉ định điều trị là tình trạng:

-         Tổng thể tích các khối u vượt quá 50% thể tích gan

-         Có huyết khối tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch gan, tĩnh mạch chủ dưới, … (tức là tế bào ung thư đã vào trong các mạch máu chính của gan hoặc của cơ thể)

-         Có di căn hạch trong ổ bụng hay di căn xa (phổi, xương)

-         Tình trạng toàn thân kém.

Đối với các trường hợp này, bác sĩ sẽ chỉ định điều trị triệu chứng: cho thuốc giảm đau, thuốc hỗ trợ chức năng gan, thuốc bổ, truyền dịch nuôi dưỡng.

Theo dõi và tái khám như thế nào?

Bệnh nhân sẽ được yêu cầu theo dõi định kỳ cho đến khi không thể tiếp tục được theo dõi nữa (tử vong, đi xa, mất liên lạc…). Và tùy phương pháp điều trị, hiệu quả điều trị, thời gian bệnh ổn định hay tiến triển mà bác sĩ sẽ hẹn bệnh nhân tái khám mỗi tháng, mỗi hai tháng, mỗi ba tháng hay mỗi sáu tháng.

Ngoài việc giải quyết khối u, bác sĩ sẽ tư vấn và điều trị bệnh nền tảng (hay là các yếu tố nguy cơ dẫn đến ung thư gan) của bệnh nhân như: viêm gan siêu vi B hay C, xơ gan… Bên cạnh đó, bệnh nhân cần ăn uống đầy đủ, tập vận động, tránh tuyệt đối việc sử dụng bia, rượu và hạn chế các thức ăn quá béo.

Tóm lại, ung thư gan có thể điều trị được với sự phát triển của các phương pháp điều trị hiện nay. Phát hiện bệnh càng sớm thì khả năng điều trị khỏi bệnh càng cao. Và trong quá trình điều trị, bệnh nhân nên tuân thủ theo lời khuyên và lịch tái khám của các bác sĩ chuyên khoa.

 

Theo BS. Nguyễn Đình Song Huy - Bệnh viện Chợ Rẫy

 

PHÂN LOẠI GIAI ĐOẠN -  Theo  TNM(Tumour, Node, Metastasis)  /  AJCC (The American Joint Committee on Cancer)

 

THEO  TNM

- Bướu nguyên phát (T) :
T0 : không có bằng chứng của u
T1 : u đơn độc không xâm nhập mạch máu
T2 : u đơn độc xâm nhập mạch máu hoặc đa u nhưng không có khối u nào lớn hơn 5cm
T3 : đa u kích thước lớn hơn 5cm hoặc u xâm lấn các nhánh chính của tĩnh mạch gan hay tĩnh mạch cửa
T4 : u xâm lấn trực tiếp vào các cơ quan lân cận như túi mật hoặc làm thủng phúc mạc
- Các hạch vùng (N)
N0 : không sờ thấy hạch vùng
N1 : hạch vùng không phải di căn
N3 : hạch vùng di căn
- Di căn xa (M)
M0 : không có di căn xa
M1 : có di căn xa


THEO AJCC
Giai đoạn I :           T1, N0, M0
Giai đoạn II :          T2, N0, M0
Giai đoạn IIIA :      T3, N0, M0
Giai đoạn IIIB :      T4, N0, M0
Giai đoạn IIIC :      T bất kỳ , N1, M0
Giai đoạn IV :        T bất kỳ , N bất kỳ, M1

 

 

 


Thực phẩm bị nấm mốc có gây ung thư gan?

Tôi có người nhà vừa rồi bị ung thư gan, mặc dù không uống rượu bia và không bị viêm gan B. Trong quá trình điều trị, được bác sĩ giải thích có nhiều nguyên nhân có thể dẫn tới ung thư gan, trong đó có lý do là ăn phải nhiều các loại gạo, lạc bị mốc. Tôi rất băn khoăn về điều này, xin quý báo giải thích rõ hơn.

Nguyễn Thị Sâm(Hải Dương)

Trong các loại ngũ cốc bị ô nhiễm, gạo lạc bị mốc hoặc thịt động vật được nuôi bằng ngũ cốc ô nhiễm đều có chứa chất aflattoxin. Đây là một mycotoxin được tiết ra từ nấm Aspergillus và  A.parasiyicus, các chủng nấm này phát triển mạnh ở các loại thực phẩm nông sản, thức ăn gia súc, gia cầm như ngô, lạc, đậu... trong các điều kiện thuận lợi nóng và ẩm, nhất là điều kiện thời tiết ở Việt Nam. Tác hại của độc tố vi nấm này đối với động vật đã được biết đến từ lâu và đã được chứng minh có thể gây ung thư gan trên thực nghiệm. Các nghiên cứu ở những vùng có tỷ lệ ung thư cao trên thế giới đều cho thấy nhiễm độc aflatoxin là nguy cơ chính gây ung thư gan.

Trên người, một loạt các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc ung thư gan nguyên phát tăng ở những vùng có tỷ lệ phơi nhiễm cao với aflatoxin, nhưng cơ chế tác động của aflatoxin gây ung thư gan ở người như thế nào vẫn còn nhiều tranh cãi, tuy nhiên đã tìm thấy sự gắn kết của aflatoxin B1 với DNA của tế bào gan ở những bệnh nhân bị ung thư gan nguyên phát. Bên cạnh đó còn có sự liên quan giữa nhiễm aflatoxin B1 với sự đột biến gen ở các bệnh nhân này, mà nhiều nhất là sự đột biến gen p53 - một gen kiểm soát sự chết tế bào theo chương trình, khi đột biến gen này sẽ làm đời sống tế bào tăng lên kéo theo nguy cơ tế bào sẽ chuyển thành ác tính.

ThS. Nguyễn Bạch Đằng

Theo Báo SK&ĐS





Giới hạn tin theo ngày :   từ   đến