Hôm nay Chủ nhật, ngày 20/04/2014,

Thường thức Y khoa

Viêm phổi cộng đồng

Thứ sáu, 19/10/2012, 23:18 GMT+7

Mở đầu

Viêm  phổi  là  bệnh  thường  gặp,  hàng  năm  có  khoảng  450  triệu  người  mắc  bệnh, bệnh gặp ở khắp nơi trên thế giới.  Tỷ lệ tử vong khoảng 4 triệu người thuộc  mọi lứa tuổi (bằng 7% số người chết hàng năm trên thế giới), trong đó cao nhất là ở trẻ em dưới 5 tuổi và ở người già trên 75 tuổi, đặc biệt ở các nước kém phát triển.

Viêm  phổi  là  tình  trạng  viêm  của  phổi, thông  thường  là do nhiễm khuẩn nhưng cũng  có  thể  do một  số  tác  nhân  khác, với đặc điểm lâm sàng là tình trạng đông đặc phổi.

Có nhiều cách phân loại viêm phổi, thông thường được chia thành Viêm phổi  trong  cộng  đồng,  Viêm  phổi  trong bệnh viện, Viêm phổi hít, Viêm phổi  liên quan  thở máy...;  cũng  có  thể  phân loại dựa  trên vùng phổi bị bệnh: Viêm phổi thùy, Viêm phế  quản-phổi,  Viêm  phổi mô  kẽ,  Viêm một bên hay cả hai bên phổi.

Viêm phổi ở thế kỷ 19 là nguyên nhân tử vong hàng đầu, đến  thế kỷ 20  tình hình được cải  thiện về cơ bản nhờ có kháng  sinh và vacxin. Tuy nhiên ở các nước kém phát  triển  thì  viêm  phổi  vẫn  là  nguyên nhân  tử vong hàng đầu ở người già,  trẻ nhỏ và người mắc bệnh mạn tính.

Bài này chỉ đề cập đến viêm phổi cộng đồng,  nghĩa  là  bệnh  xảy  ra  trong  môi trường  sống  xung  quanh  ta  chứ  không  phải trong bệnh viện (*).

Tác nhân gây ra viêm phổi cộng đồng

Tác nhân  thường gặp  là vi khuẩn hoặc  vi rút, đôi khi do nấm hoặc ký sinh trùng.

Ngoài  ra  còn  có  các  viêm  phổi  hiếm  gặp:  do  hít  phải  hóa  chất,  do  các  tác  nhân vật lý hay do dị ứng.

Các tác nhân thường gặp của viêm phổi cộng đồng:

-  Vi  khuẩn  chiếm  80-85%:  Streptococcus  pneumoniae  (hay  gặp  nhất),  Haemophilus

influenzae, Moraxella catarrhalis, Klebsiella pneumonia, mycoplasma, Chlamydia... 

- Vi rút chiếm 15-20%: influenza, parainfluenza, rhinovirus, adenovirus...

Tại sao bị viêm phổi

Khi hít thở, chúng ta vô tình hít phải vi khuẩn hoặc vi rút trong không khí do người bệnh  ho, hắt hơi, khạc nhổ hay do chính vi khuẩn, vi  rút khu  trú  trong mũi, miệng, họng  người bệnh xâm nhập vào phổi. Bình thường chúng ta có phản xạ ho tống vi khuẩn, vi  rút có trong đàm ra ngoài và có hệ miễn dịch giúp tiêu diệt vi khuẩn, vi rút khi chúng  xâm nhập vào đường thở, nhờ đó tránh được viêm phổi. tuy nhiên khi sức khỏe của chúng ta bị giảm sút do một nguyên nhân nào đó, chúng ta rất dễ bị viêm phổi.

Những người có nguy cơ cao bị viêm phổi bao gồm:

- Người già (trên 65 tuổi) hay trẻ nhỏ (do hệ miễn dịch phát triển chưa đầy đủ).

- Hút thuốc lá nhiều.

- Nghiện rượu, suy dinh dưỡng làm suy giảm hệ miễn dịch.

- Mắc bệnh phổi mạn tính (hen, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và đặc biệt là ở người dùng thuốc hít corticosteroid kéo dài...), bệnh tim mạch (bệnh tim bẩm sinh, suy tim...), đái tháo đường, xơ gan, suy thận...

- Suy giảm hệ miễn dịch do dùng thuốc ức chế miễn dịch, hóa trị liệu ung thư, hiV/AiDS...vào viện và phát bệnh phải trên 48 giờ sau nhập viện.

Viêm phổi bệnh viện rất nặng vì bệnh gây ra bởi các vi khuẩn có sẵn trong bệnh viện mà thường là rất độc và đề kháng với nhiều loại kháng sinh thông thường; tỷ lệ tử vong rất cao (ở Hoa Kỳ gần đây là 18%).

Triệu chứng

Đa số bệnh nhân có triệu chứng khởi đầu giống cảm cúm như ho, hắt hơi... sau đó sốt cao, lạnh run, đàm đục. tùy theo vị trí và mức độ viêm phổi, các triệu chứng có thể thay đổi giữa người này với người khác.

Các triệu chứng của viêm phổi bao gồm:

- Sốt, ớn lạnh, rét run, có thể hạ thân nhiệt ở người lớn tuổi.

- Ho đàm có thể màu vàng hay xanh lá cây, đôi khi có lẫn máu.

- Khó thở, thở nhanh, nặng ngực.

- Đau ngực khi tình trạng viêm ảnh hưởng đến màng phổi gần đó, được gọi là đau ngực kiểu màng phổi, có đặc điểm là đau nhói, tăng lên khi ho hay hít thở sâu.

- Các triệu chứng khác không điển hình như đau cơ, nhức đầu, mệt mỏi...

- Khám phổi thường nghe được ran nổ.

Chẩn đoán

- Chẩn đoán viêm phổi dựa vào các triệu chứng  (sốt, ho đàm đục,  khó  thở...),  và  các dấu hiệu khi khám (âm phế bào thô, ran  nổ). 

X-quang  phổi  rất  cần  thiết  để chẩn đoán chắc chắn viêm phổi, xác định  vị trí và mức độ viêm phổi.

-  Biểu  hiện  trên  phim  phổi  thường  là  những đám mờ theo thùy phổi hay những

nốt thâm nhiễm.

- Xét nghiệm máu: công thức máu, CRP, procalcitonin...

- Nhuộm gram và cấy đàm để tìm tác nhân gây bệnh.

Biến chứng

Đa số viêm phổi khi điều trị sẽ khỏi bệnh. Một số trường hợp do vi khuẩn có độc lực  cao, do sức đề kháng của cơ thể quá yếu hay do chẩn đoán và điều trị không kịp thời có thể dẫn đến các biến chứng như: tràn dịch hay tràn mủ màng phổi, áp-xe phổi, suy hô hấp, suy tuần hoàn, nhiễm khuẩn huyết...

Điều trị

-  Bệnh  nhân  cần  uống  nhiều  nước  và  nghỉ ngơi.

- Kháng sinh được chỉ định cho viêm phổi  do  vi  khuẩn,  lựa  chọn  kháng  sinh  phù  hợp cho  từng bệnh nhân căn cứ  trên kinh  nghiệm  và  kháng  sinh  đồ.  Dùng  thuốc  kháng vi rút đối với viêm phổi do vi rút.

- Thuốc hạ sốt (acetaminophen, ibuprofen…),  thuốc giảm ho, loãng đàm.

- Đa số bệnh nhân viêm phổi có  thể điều  trị  ngoại  trú,  cần  nhập  viện  khi:  tuổi  cao > 65, lơ mơ, thở nhanh trên 30 lần/phút,  huyết áp tụt < 90 mmhg, phải hỗ trợ hô hấp (thở oxy, thở máy...), bệnh nhân nghiện rượu, suy dinh dưỡng, có bệnh mạn tính, từng nhập viện trong năm vừa qua.

Phòng ngừa viêm phổi

- Tiêm vacxin cho những người có nguy cơ cao của viêm phổi, ở  trẻ con cũng như  người lớn: tiêm vacxin cúm (vacxin influenza) hàng năm, vacxin phế cầu - Streptococcus pneumoniae là loại vi khuẩn hay gặp nhất của viêm phổi - tiêm một lần và nhắc lại sau 3 năm.

- Tự phòng  tránh bằng cách  thường  xuyên  rửa  tay, không hút  thuốc, có chế độ ăn uống nghỉ ngơi và làm việc hợp lý để giữ cho cơ thể luôn mạnh khỏe, giữ môi trường trong lành...

Tiên lượng

- Đa số viêm phổi có tiên lượng tốt và có thể điều trị ngoại trú. tỷ lệ tử vong ở các đối  tượng này vào khoảng 1%, xảy ra cho những người lớn tuổi hay những người có vấn đề về sức khỏe trước đó.

- Đối với viêm phổi nặng cần nhập viện, tiên lượng không hoàn toàn tốt. tỷ lệ tử vong

cao hơn, ở hoa Kỳ gần đây là 5% và trên 20% khi có nhiễm khuẩn huyết.

 

ThS BS Âu Thanh Tùng

Websuckhoe.vn  ( Theo BV Đại học Y dược TP.HCM )

 

(*) Trong một dịp khác chúng tôi sẽ giới thiệu viêm phổi bệnh viện là bệnh xảy ra trong môi trường bệnh viện, bệnh nhân không ở giai đoạn ủ bệnh khi




Viết Phản hồi :

 


 
Bộ gõ : Off Telex VNI